Kho rượu khủng' ở Hà Nội có chứa chất ma túy

17:26 |

Ngày 25/12, Phòng Cảnh sát môi trường (Công an Hà Nội) phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật hình sự (Bộ Công an), Công an huyện Từ Liêm và Quản lý thị trường kiểm tra cơ sở buôn bán đá quý Thúy Gấu ở đường Mễ Trì (huyện Từ Liêm, Hà Nội). Chủ cơ sở là Hà Phương Thúy (46 tuổi, ở Yên Bái).
Chú thích ảnh
Cảnh sát phát hiện cây thuốc phiện trong bình rượu. Ảnh: Hà Anh.
Tầng một của cửa hàng (rộng chừng 30 m2) được dùng để trưng bày đá quý, đá phong thủy. Các tầng trên chủ quán bày các thùng, bình rượu ngâm với đủ loại củ, quả, lá cây và động vật rừng. Trên sân thượng, nhà chức trách phát hiện nhiều thùng, can nhựa, bình thủy tinh loại 20-30 lít chứa rượu. Đây cũng là nơi chủ hàng sang chiết rượu vào các chai nhỏ để bán ra thị trường.
Tình nghi một số loại cây, quả ngâm trong bình có hình dạng giống cây thuốc phiện, Viện Khoa học kỹ thuật hình sự đã kiểm tra nhanh bằng que thử.
Trên sân thượng có nhiều chai nhỏ được san ra để bán. Ảnh: Hà Anh.
Trên sân thượng có nhiều chai nhỏ được san ra để bán. Ảnh: Hà Anh.
"Loại rượu này có chứa chất ma túy. Ít nhất 2 bình rượu thủy tinh loại 30 lít bị phát hiện ngâm vỏ, quả, thân cây thuốc phiện. Người uống loại rượu này có thể mắc nghiện", thượng tá Vũ Quốc Tuấn, Phó phòng Giám định Hóa pháp lý nói và khẳng định, không chỉ nhựa mà vỏ, thân, lá, quả cây thuốc phiện đều chứa tính độc, chất gây nghiện.
Theo một chuyên gia của Viện Khoa học hình sự, nhiều người nghĩ uống rượu ngâm vỏ, thân, lá, quả cây thuốc phiện có thể nâng cao khả năng sinh lý song đó đều là ảo giác. "Sử dụng rượu ngâm cây thuốc phiện rất hại cho thận và gan", vị chuyên gia nói.
Cùng ngày, Phòng cảnh sát tội phạm về môi trường cùng các đội Quản lý thị trường 6 - 7; công an huyện Từ Liêm kiểm tra 2 cơ sở kinh doanh rượu khác ở đường Mễ Trì và phố Đỗ Đức Dục. Cửa hàng Thế giới nghiêng ký kết với cơ sở của bà Thúy để trưng bày, giới thiệu, bán rượu ngâm động vật. Còn cửa khác trên phố Đỗ Đức Dục có nhiều loại rượu ngâm không đảm bảo vệ sinh an toàn.
Cảnh sát test nhanh phát hiện một số loại rượu dương tính với ma túy. Ảnh: Hà Anh.
Cảnh sát test nhanh phát hiện một số loại rượu có chứa chất ma túy. Ảnh: Hà Anh.
Theo ông Lương Thế Vinh, Đội phó đội quản lý thị trường số 7, thời điểm kiểm tra, chủ cơ sở không xuất trình được giấy phép kinh doanh rượu cùng các loại giấy tờ khác. Tối cùng ngày, cả nghìn lít rượu đã bị niêm phong chờ xử lý.
Phòng cảnh sát môi trường (Công an Hà Nội) đã đưa cơ sở này vào "tầm ngắm" từ nhiều tháng. Để đối phó với lực lượng chức năng, nhiều bình rượu ở cơ sở bà Thúy ghi là "hàng mẫu", tuy nhiên khách đến mua vẫn bán. Ngoài bán tại chỗ, cửa hàng này còn ký hợp đồng bán cung cấp, giới thiệu sản phẩm cho một số nhà hàng ăn uống trên địa bàn Hà Nội.
Hà Anh - Nam Anh
Read more…

Mại dâm bình dân thời bão giá

07:42 |

Thấy khách tấp vào tiệm hớt tóc đường Nguyễn Lương Bằng (TP Đà Nẵng), cô gái đang nằm trên ghế nệm trước quán vội đứng dậy cất lời: "Anh muốn được 'thư giãn' bằng cách nào?". "Anh muốn đi tàu nhanh hay xoa bóp?".

Cô gái cho biết, nếu xoa bóp “đơn giản” thì 50.000 đồng, còn “phức tạp” hơn tí thì 100.000 đồng... Khách đồng ý cách “thư giãn” tại chỗ. Bỏ qua căn phòng được trang bị 3 chiếc ghế với những tấm màn ngụy trang cũ kỹ, cô gái dẫn khách vào căn phòng cuối cùng. Để ánh sáng không thể lọt vào, cô gái vội đóng cánh cửa sau lại, rồi chốt khóa cẩn thận.
Chưa kịp kéo tấm màn xong, cô gái đã lên tiếng đòi tiền: Nếu anh chọn cách “đơn giản” thì cho em xin 100.000 đồng còn “phức tạp” thì 150.000 đồng”. Khách hỏi lại: "Chỉ mới bước qua một căn phòng mà giá đã vượt lên 50.000 đồng?" thì được trả lời, đã vào đây thì ngoài số tiền để được “xoa bóp”, mỗi khách phải đưa thêm 50.000 đồng tiền “vé giữ... ví” cho bà chủ nữa anh.
Không đồng ý, khách bỏ ra ngoài thì bị một người đàn bà dáng thô kệch tự xưng là chủ ngăn lại, cất lời uy hiếp: “50.000 đồng đó là tiền vé để giữ ví. Quy định đã có từ lâu. Muốn được mấy em đưa “lên mây” thì đưa đây đúng giá rồi vào trong, còn không thì trả tiền vé 50.000 đồng, biến đi nơi khác mà “chơi” để khi về chẳng còn chiếc ví trong túi”.
Những tiệm hớt tóc trá hình.
Khách rút tờ 50.000 đồng trả tiền giữ ví và tỏ ra mình cũng... cứng cựa: “Làm ăn như thế này thì đợi ngày dẹp tiệm đi nhé!”. Bất ngờ, bà chủ nhanh tay vớ lấy cây sắt dài hơn 1m chạy ra “tiễn khách”.
Một tiệm khác cách đó không xa, dù để tấm bảng với nội dung hớt tóc, massage, gội đầu nhưng trong tiệm chẳng có dụng cụ hành nghề ngoài chiếc ghế đã cũ và tấm kính nhỏ cùng chiếc nồi nấu ăn đang để trên cái bếp gas cạnh đó... Không cần để khách đưa ra “nguyện vọng”, người đàn bà đã ngoài 40 tuổi đặt vấn đề ngay: “Massage và làm luôn là 150.000 đồng. Đưa tiền trước rồi theo em nó vào trong mà sướng”.
Thấy khách còn do dự, bà chủ tiếp: “Yên tâm đi. Tiệm này đã có uy tín từ mấy năm nay rồi. Tin chắc ai đã đến đây lần đầu thì sẽ đến tiếp lần sau vì ở đây các em đều biết cách làm cho khách hài lòng”.
Nghe lời giới thiệu khá hấp dẫn của bà chủ, khách đồng ý đi “tàu nhanh” kèm theo chương trình khuyến mãi massage. Nhận tiền xong, bà chủ ra hiệu để cô gái đứng cạnh đó đưa khách đến căn phòng nằm ở phía sau. Căn phòng tương đối rộng, kê 3 chiếc giường được phủ bởi tấm chiếu cũ cùng chiếc gối đôi đã thâm đen.
Không để mất thời gian, cô gái vội trút bỏ y phục rồi giục khách làm theo... Khách chê bẩn bước ra cũng là lúc một người nồng mùi rượu bước vào cùng cô gái khác. Người đàn bà đang nằm trên chiếc ghế đặt trước cửa nhắn: “Hôm sau đến, chị đổi hàng mới cho”.
Cảnh bên trong những phòng trọ phục vụ những chuyến "tàu nhanh" .
Nếu như hai tiệm trước khách được “lên mây” tại chỗ thì đến tiệm khác gần đó khách phải chịu khó theo các nàng đến một địa điểm cách đó khoảng 1 km. Các cô gái ở đây liên tục chào mời: “Giờ mình đi nhà trọ luôn nha anh”. “Anh vào hớt tóc, đi đâu nữa?”. “Thôi ông anh ơi, anh nhìn xem trong tiệm này ngoài tấm kính và chiếc ghế dính đầy bụi thì có dụng cụ nào phục vụ cho hớt tóc đâu. Nếu có thì bọn em cũng chẳng biết làm vì có phải thợ thầy gì đâu”...
Trước khi lên đường, cô gái dặn: “Anh cứ chạy xe theo em nhé”. Dứt lời, cô nổ máy chạy lên hướng đèo Hải Vân rồi rẽ phải về biển, tấp vào nhà trọ. Có lẽ đây là nhà trọ quen nên cô không cần gọi ai lấy một tiếng mà tự mình đi đến căn phòng đầu của dãy trọ lấy 2 chiếc khăn nhỏ rồi ra hiệu cho khách đi theo vào căn phòng phía trong. Cánh cửa phòng mở vội rồi cũng khép vội. Không gian chật hẹp, ẩm thấp chỉ có chiếc giường nhỏ với hai cái gối được chồng lên nhau.
Chưa kịp để khách chuẩn bị tinh thần, cô gái đặt “ok” và hai chiếc khăn xuống giường: “Anh ơi, tiền trao cháo múc!”. Hiểu ý, khách liền rút ví đưa đủ số tiền mà cô đã ra giá trước đó. Vừa nhét tiền vào túi xong, cô gái nhanh tay trút bỏ y phục, bước đến ôm chặt lấy khách nhỏ nhẹ: “Cởi đi anh, “tàu nhanh” thì phải nhanh chứ, chần chừ trễ chuyến thì thiệt thòi đó nghe!”.
Bóng chiều đổ dài, trên tuyến đường Nguyễn Lương Bằng, nhiều nàng nhan sắc “thường thường bậc trung” vẫn túc trực đợi khách. Nhiều vị khách vội vã đến rồi cũng vội vã đi...
Theo Công an Đà Nẵng
Read more…

'Quan' tan sự nghiệp, vướng lao lý vì cờ bạc

03:31 |

Nhiều người có chức quyền, địa vị xã hội song vì ham cờ bạc đã đẩy tương lai vào ngõ cụt, gia đình ly tán, tài sản bán sạch. 'quan' đánh cờ tiền tỷ mắt đỏ hoe lĩnh 

Sáu Lèo trắng tay sau những ván cờ tướng tiền tỷ. Ảnh: Thiên Phước
Đúng một năm trước, nhà hàng Cánh Buồm ở thành phố Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) treo băng rôn khắp các tuyến đường về chương trình giảm giá trong dịp Giáng sinh thì ông chủ Trần Văn Tân (48 tuổi, nguyên giám đốc Trung tâm sát hạch và cấp phép lái xe hạng 3) bị cảnh sát bắt vì "đánh cờ tướng tiền tỷ". Trong đêm Noel, nhà hàng Cánh Buồm và quán cà phê Cánh Buồm Xanh vắng khách. Đây là thời điểm đánh dấu sự lụi tàn của ông chủ đại gia này.
"Kỳ thủ" sát phạt với Tân là Nguyễn Thanh Lèo (Sáu Lèo, nguyên Phó giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Sóc Trăng). Từng học chung trường, những ngày đầu mới cùng nhau đánh cờ, cả hai chỉ muốn thư giãn đầu óc, rồi Lèo rủ Tân sát phạt bằng tiền, có ván ăn thua đến 5 tỷ đồng.
Lúc bị bắt, tổng số tiền Lèo thua Tân và Đinh Văn Mười (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Thành ủy Sóc Trăng) trên 37 tỷ đồng. Tân xiết nợ Lèo rồi nhờ người đòi bằng cách lấy đất đai, nhà cửa. Bị dọa "xử đẹp", Lèo sợ ảnh hưởng đến an nguy của vợ con nên nhiều lần định tự tử nhưng người thân kịp phát hiện.
Lĩnh án 5 năm tù về tội Đánh bạc, Lèo khóc sướt mướt. Trong lần trò chuyện với những người đến thăm tại trại giam, cựu phó giám đốc sở giãi bày rằng ngủ trong tù ngon giấc hơn những đêm nằm trong căn biệt thự rộng lớn mà canh cánh nỗi lo bị xiết nợ.
Giờ đây, căn biệt thự của Lèo ở mặt đường quốc lộ 1 luôn đóng cửa, ngoài cổng treo biển rao bán. Sáu Lèo đi tù, dự án xây cao ốc Hồng Ngọc cạnh nơi ông làm việc bị hủy. Công ty Xây dựng Phú Lộc của gia đình bị ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Ngay cả căn biệt thự đang rao bán cũng đã thế chấp ngân hàng hơn 4 tỷ đồng. Nếu bán được 9 tỷ thì gia đình "quan cờ" này cũng trắng tay vì đang nợ bạn bè hơn 4 tỷ đồng.
Theo vợ Lèo, chồng bà không kháng cáo xin giảm hình phạt vì gia đình không còn tiền thuê luật sư bào chữa. Giờ đây bà chỉ mong chồng cải tạo tốt tại Trại giam Kinh 5 (Hậu Giang) để sớm đoàn tụ gia đình. Bà lo sức khỏe của ông ngày càng yếu đi vì bệnh gút hành hạ.
Đối với "kỳ thủ" Tân, ngày 27/9 dù được cấp phúc thẩm giảm 6 năm tù (còn 11 năm 6 tháng tù) về hai tội Đánh bạc và Cưỡng đoạt tài sản nhưng vẫn buồn thiu vì hay tin vợ xin ly hôn. Nhà hàng Cánh buồm và quán cà phê Cánh Buồm Xanh đóng cửa. Khu đất ông cho thuê xây lò giết mổ bị thu hồi, nhiều dự án kinh doanh ở Cần Thơ bị hủy bỏ.
Thửa đất rộng gắn với căn biệt thự trên quốc lộ 1A của Sáu Lèo đang được rao bán với giá 9 tỷ đồng. Ảnh: Duy Khang
Không sát phạt tiền tỷ như Sáu Lèo, nhiều cán bộ vì ham đỏ đen, thiếu rèn luyện đạo đức mà tiêu tan sự nghiệp, vướng lao lý.
Chủ tịch UBND xã Hòa Thành, huyện Lai Vung (Đồng Tháp) Trần Hữu Hiệpbị bắt quả tang đánh bạc với số tiền hơn 2 triệu đồng. Ông này tham gia sát phạt khi đang trực tại cơ quan trong ngày 19/5. Cùng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc với ông Hiệp có Nguyễn Ngọc Tâm (nguyên trưởng Công an xã Hòa Thành), Đào Tuấn Kiệt (công an viên), Hồ Chí Công (dân quân tự vệ), Nguyễn Thanh Sơn (nguyên đại biểu HĐND xã).
Trong các "quan" đánh bạc bị bắt trong năm 2012 còn có Nguyễn Trân (58 tuổi, Phó giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Tĩnh). 5 tháng trước, ông này bị phát hiện đánh phỏm với Trần Phi Được (Giám đốc Công ty xây dựng và quản lý công trình giao thông Hà Tĩnh) và hai trưởng, phó phòng của Sở là Nguyễn Văn Sử và Trần Nam Long. Nơi sát phạt là phòng làm việc của Giám đốc Được. Ngoài 4 triệu đồng tang vật, cảnh sát tạm giữ gần 5 triệu đồng trong người của ông Trân và thuộc cấp.
Tương tự, Công an thị xã An Khê (tỉnh Gia Lai) ập vào nhà Ngô Viết Dũng trong đêm 20/3 phát hiện 8 người đàn ông đang đánh bạc với số tiền hơn 20 triệu đồng. Trong số này có ông Phan Văn Lai (50 tuổi, Bí thư kiêm chủ tịch xã Thành An). Hơn một tuần sau ông Lai bị khởi tố về hành vi Đánh bạc.
Còn Trần Minh Long (36 tuổi, nguyên kế toán trưởng Kho bạc Nhà nước huyện Nhà Bè, TP HCM) đã tham ô hàng chục tỷ đồng để đánh bạc và phải trả giá bằng mạng sống.
Học giỏi, có chí tiến thủ, Long sớm thành đạt ở tuổi 32. Kết thân với Phùng Mạnh Hùng (27 tuổi), nam kế toán này bắt đầu cá độ bóng đá. Đến tháng 3/2011, Long "thụt két" bằng cách lập ra hàng loạt ủy nhiệm chi điện tử, chuyển trên 44 tỷ đồng tiền khách hàng gửi tại kho bạc vào tài khoản của Hùng.
Theo cảnh sát, Long đã thua cá độ bóng đá hơn 36 tỷ đồng, số tiền anh ta chiếm đoạt sử dụng cá nhân là 8 tỷ đồng. Với hành vi này, Long bị TAND TP HCM tuyên án tử hình.
Vì số tiền thất thoát quá lớn không thể khắc phục được, TAND Tối cao tại TP HCM sau đó cũng bác đơn xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên mức án cao nhất đối với bị cáo. Trước đó, được nói lời cuối cùng tại phiên xử phúc thẩm, Long tỏ ra hối hận, muốn được sống vì sợ con lớn lên trong sự ám ảnh về việc làm phạm pháp của cha. Nhưng với Long, tất cả đã quá muộn.
Duy Khang


Read more…

Siêu lừa liên quan đến bầu Kiên bị đề nghị truy tố

07:49 |

Với sự giúp sức của nhiều cán bộ ngân hàng, bà Huỳnh Thị Huyền Như đã chiếm đoạt gần 4.000 tỉ đồng của nhiều tổ chức, cá nhân

Ngày 14-12, Cơ quan CSĐT (Bộ Công an) cho biết vừa kết thúc điều tra vụ án Huỳnh Thị Huyền Như (SN 1978, trú tại TPHCM), nguyên phó Phòng Quản lý rủi ro Chi nhánh TPHCM, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) và đồng bọn lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; cho vay lãi nặng; vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Hà Nội và TPHCM.
 
Từ vay nặng lãi đến lừa đảo
 
Theo kết luận điều tra, từ đầu năm 2007, khi là cán bộ tín dụng VietinBank Chi nhánh TPHCM, bà Như đã vay hơn 200 tỉ đồng của nhiều ngân hàng, tổ chức, cá nhân để kinh doanh bất động sản tại TPHCM, Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Lạt, Quảng Nam và An Giang. Đến năm 2010, do kinh doanh thua lỗ và phải trả lãi suất cao, bà Như không có khả năng thanh toán.
 
Siêu lừa liên quan đến bầu Kiên bị đề nghị truy tố
VietinBank chi nhánh Võ Văn Tần, quận 3 - TPHCM từng có một số cán bộ tín dụng dính vào vụ lừa đảo của Huỳnh Thị Huyền Như.
 
Để có tiền trả nợ, từ tháng 3-2010 đến 9-2011, lấy danh nghĩa huy động vốn cho VietinBank, bà Như đã làm giả 8 con dấu Chi nhánh Nhà Bè của ngân hàng này và 7 công ty khác, đồng thời làm giả tài liệu của VietinBank cùng nhiều đơn vị, cá nhân khác để lừa đảo, chiếm đoạt của 9 công ty, 3 ngân hàng, 3 cá nhân tổng cộng hơn 4.911 tỉ đồng.  Tại cơ quan điều tra, bà Như khai trong số tiền chiếm đoạt được, bà chỉ trả nợ được 925 tỉ đồng.
 
Trong vụ án này, cơ quan công an xác định các bị can Nguyễn Thiên Lý, Nguyễn Thị Lành, Đào Thị Tuyết Dung, Hùng Mỹ Phương cùng một số đối tượng khác cho bà Như vay nặng lãi trong thời gian dài là nguyên nhân dẫn đến việc bà Như có hành vi phạm tội. Các bị can khác hoạt động trong ngành ngân hàng có hành vi vi phạm quy định về cho vay, lập hồ sơ “khống”, vi phạm quy định nghiệp vụ, không làm đúng quy định về quy chế mở và sử dụng tài khoản tại ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện cho bà Như chiếm đoạt số tiền lớn.
 
 
Liên quan đến vụ việc này, cơ quan điều tra đã khởi tố 6 người gồm ông Nguyễn Đức Kiên, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Sáng lập Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB); ông Trần Xuân Giá, nguyên chủ tịch HĐQT ACB; Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang, nguyên phó chủ tịch HĐQT ACB; Lý Xuân Hải, nguyên tổng giám đốc ACB, do có hành vi cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
 
Từ tháng 5-2010 đến 11-2011, ACB ủy thác cho 19 nhân viên gửi tổng cộng gần 719 tỉ đồng vào VietinBank (Chi nhánh Nhà Bè và Chi nhánh TPHCM) song bị bà Như chiếm đoạt. Quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra còn xác định hành vi của 6 bị can nói trên liên quan đến vụ án Nguyễn Đức Kiên kinh doanh trái phép, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại các Công ty CP Đầu tư ACB Hà Nội, Công ty TNHH Đầu tư tài chính Á Châu, Công ty CP Đầu tư Thương mại B&B và Ngân hàng ACB nên đã tách ra để điều tra tiếp.
 
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng xác định trong vụ án còn có lãnh đạo một số ngân hàng, cán bộ của VietinBank, một số đối tượng cho vay lãi nặng liên quan đến bà Như cần phải tiếp tục điều tra. 

Nhiều người liên quan
Ngoài Huỳnh Thị Huyền Như, Cơ quan CSĐT còn đề nghị VKSND cùng cấp truy tố Võ Anh Tuấn, nguyên cán bộ văn phòng NH VietinBank; Trần Thanh Thanh, nguyên phó Phòng Dịch vụ khách hàng, nguyên trưởng Phòng Giao dịch Điện Biên Phủ, VietinBank - Chi nhánh TPHCM; Tống Nguyên Dũng, nguyên nhân viên tín dụng Phòng Giao dịch Điện Biên Phủ; Đoàn Lê Du, nguyên trưởng Phòng Giao dịch Đinh Tiên Hoàng, VietinBank - Chi nhánh TPHCM; Huỳnh Trung Chí, nguyên nhân viên tín dụng Phòng Giao dịch Đinh Tiên Hoàng; Huỳnh Hữu Danh, nguyên nhân viên Ngân hàng Quốc tế (VIB); Lương Thị Việt Yên, nguyên trưởng Phòng Giao dịch Võ Văn Tần, VietinBank - Chi nhánh Nhà Bè; Hồ Hải Sỹ, nguyên phó trưởng Phòng Giao dịch Võ Văn Tần; Lê Thị Ngọc Lợi, nguyên giao dịch viên Phòng Giao dịch Võ Văn Tần.
 
Theo NLĐ
Read more…

Vụ lừa đảo gần 4.000 tỉ đồng: ACB thiệt hại hơn 700 tỉ đồng

21:16 |

Kết thúc điều tra vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản gần 4.000 tỉ đồng của Huỳnh Thị Huyền Như, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đề nghị Viện KSND tối cao truy tố 17 bị can về 5 tội danh.

Theo kết luận điều tra, đầu năm 2007 bị can Huỳnh Thị Huyền Như - khi đó là cán bộ tín dụng Vietinbank chi nhánh TP.HCM - vay trên 200 tỉ đồng của nhiều ngân hàng, tổ chức và nhiều cá nhân với lãi suất cao để kinh doanh bất động sản. Trong quá trình kinh doanh, do cần vốn nên Như còn vay nóng lãi suất cao của hàng chục cá nhân.
Sau khi vay nợ nhiều với lãi suất “khủng”, kinh doanh lại bị thua lỗ, trong năm 2010 các chủ nợ liên tục đòi tiền Huỳnh Thị Huyền Như. Trước tình hình này, Như lợi dụng việc thông thạo nghiệp vụ ngân hàng, lợi dụng bản thân khi đó là quyền trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ, có quyền ký duyệt lệnh chuyển tiền từ ngân hàng đi các đơn vị để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền bị Như chiếm đoạt là gần 4.000 tỉ đồng.
Liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra xác định từ tháng 5-2010 đến tháng 11-2011, Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên, nguyên phó chủ tịch hội đồng sáng lập ACB) đã chỉ đạo thường trực HĐQT của ACB ra chủ trương để ACB ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào các tổ chức tín dụng sai quy định.
Cụ thể, từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 9-2011, ACB đã ủy thác cho 19 nhân viên gửi tổng cộng gần 719 tỉ đồng vào Vietinbank chi nhánh Nhà Bè và Vietinbank chi nhánh TP.HCM lãi suất trong hợp đồng 14%/năm, lãi suất chênh lệch ngoài hợp đồng từ 3,7-13%/năm. Cơ quan điều tra xác định hành vi này đã vi phạm điều 106 Luật các tổ chức tín dụng và thông tư 02 của Ngân hàng Nhà nước quy định về trần lãi suất. Toàn bộ số tiền gửi này đã bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt.
Ngoài ACB, cơ quan điều tra cũng xác định Huỳnh Thị Huyền Như vay tiền và gây thiệt hại nghiêm trọng cho ba ngân hàng lớn.
Cụ thể, tại Ngân hàng TMCP MSB, hội đồng tín dụng của ngân hàng đã ký quyết định cấp hạn mức giao dịch cho Vietinbank 5.000 tỉ đồng và 50 triệu USD, thời hạn 12 tháng, lãi suất theo tình hình biến động của thị trường từng thời điểm.
Theo đó, MSB đã ký 73 hợp đồng ủy thác đầu tư với ba công ty Hưng Yên, Thịnh Phát, Phúc Vinh với tổng số tiền hơn 2.552 tỉ đồng. Sau đó, ba công ty này ký 72 hợp đồng gửi tiền vào Vietinbank chi nhánh Nhà Bè với tổng số tiền trên 2.500 tỉ đồng.
Cơ quan điều tra nhận định bản chất của việc MSB ủy thác đầu tư cho ba công ty trên là để gửi tiền vào Vietinbank hưởng lãi suất từ 18-23%/năm, cao hơn trần lãi suất Ngân hàng Nhà nước quy định. Việc ủy thác gửi tiền tại Vietinbank được thực hiện khi chưa có hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Trong quá trình giao dịch hai bên không có thỏa thuận hưởng chênh lệch cá nhân nhưng có những sơ hở, thiếu sót nên bị Huỳnh Thị Huyền Như cùng đồng bọn lập hợp đồng giả, làm giả lệnh chuyển tiền của ba công ty này cho nhiều cá nhân, đơn vị và chiếm đoạt gần 1.600 tỉ đồng. Đến tháng 9-2011, trước khi khởi tố vụ án, ba công ty đã vay tiền của một đơn vị khác để trả lại cho MSB toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt.
Tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPB), thông qua sự sắp đặt của Lê Thị Thanh Phương (nguyên trưởng phòng nguồn vốn TPB) và Huỳnh Thị Huyền Như, TPB đã ký chín hợp đồng mua chứng khoán, môi giới chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư với Công ty CP chứng khoán Phương Đông, Công ty quản lý quỹ Lộc Việt trị giá 1.860 tỉ đồng. Sau đó, hai công ty này ký hợp đồng với Vietinbank Nhà Bè, Vietinbank TP.HCM để gửi toàn bộ số tiền này với lãi suất từ 13-14,8%/năm và bị Như làm giả hợp đồng, chiếm đoạt 550 tỉ đồng.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Nam Việt đã giải ngân vào tài khoản 14 cá nhân là nhân viên của ngân hàng này với số tiền hơn 1.500 tỉ đồng. Sau đó 14 cá nhân này làm thủ tục gửi tiền có kỳ hạn vào Vietinbank Nhà Bè với lãi suất từ 16,5-22,5%/năm và bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt 200 tỉ đồng.
Tiếp tục điều tra vụ án liên quan đến bầu Kiên
Liên quan đến vụ ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) bị bắt, cơ quan điều tra xác định một số bị can nguyên là lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) có hành vi cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.
Bầu Kiên - Ảnh: Quang Minh
Bầu Kiên - Ảnh: Quang Minh
Theo cơ quan điều tra, từ tháng 5-2010 đến tháng 11-2011, ACB ủy thác cho nhân viên gửi tổng cộng hơn 36.322 tỉ đồng với lãi suất 11,2-27%/năm và hơn 71 triệu USD với lãi suất 3-6%/năm vào 29 ngân hàng trên cả nước. Tổng cộng ACB đã thu về hơn 1.639 tỉ đồng và trên 1,3 triệu USD tiền lãi.
Trong số này có việc gửi tiền vào 22/29 ngân hàng với lãi suất trong hợp đồng từ 11,2-14%/năm, lãi chênh lệch ngoài hợp đồng từ 0,4-5%/năm. Hành vi này vi phạm Luật các tổ chức tín dụng, thông tư 02 và quyết định 16 của Ngân hàng Nhà nước về cơ chế điều hành lãi suất bằng đồng Việt Nam. Bước đầu, cơ quan điều tra xác định số tiền chênh lệch ngoài hợp đồng là hơn 247 tỉ đồng.
Trong vụ án này, cơ quan điều tra đã khởi tố sáu bị can gồm ông Nguyễn Đức Kiên, ông Trần Xuân Giá - nguyên chủ tịch HĐQT ACB; các ông Phạm Trung Cang, Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang - nguyên phó chủ tịch HĐQT và ông Lý Xuân Hải - nguyên tổng giám đốc ACB - về hành vi cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo đánh giá của cơ quan điều tra, hành vi của sáu bị can này gây hậu quả đặc biệt lớn, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh tiền tệ, gây bất ổn đến chính sách tiền tệ của Chính phủ, thu lợi bất chính cho ACB và thiệt hại cho 22 ngân hàng khác, đồng thời trực tiếp gây thiệt hại cho ACB gần 719 tỉ đồng do bị Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt.
Quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra cho rằng hành vi của Nguyễn Đức Kiên và các bị can còn lại đều có liên quan đến vụ kinh doanh trái phép, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty cổ phần đầu tư ACB Hà Nội, Công ty TNHH đầu tư tài chính Á Châu, Công ty cổ phần đầu tư thương mại B&B và ACB. Do đó, cơ quan điều tra quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của sáu bị can này để nhập vào vụ án “Nguyễn Đức Kiên kinh doanh trái phép...”. Hiện vụ án đang được tiếp tục điều tra.
Theo Minh Quang

Read more…

Phá tụ điểm mại dâm chỉ tiếp khách ngoại ở Sài Gòn

18:19 |
Các tiếp viên chỉ được phép bán dâm với người nước ngoài, đặc biệt là người Hàn Quốc. Giá mỗi lần “đi khách” là 1,3 triệu đồng đến 2 triệu đồng và phải nộp lại 300.000 đồng cho các tú bà.

Hai gái mại dâm bị công an bắt quả tang trong một vụ án khác. Ảnh minh hoạ: T.N.
Ngày 14-12, Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Bình Dương cho biết, vừa triệt xóa tụ điểm môi giới mại dâm cho người nước ngoài núp bóng karaoke nằm trên đường Trần Phú, khu dân cư Chánh Nghĩa, phườnh Chánh Nghĩa, TP Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Từ công tác trinh sát, PC45 tỉnh này xác định cơ sở kinh doanh karaoke Bạn có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật. Ngoài việc thường xuyên phục vụ khách vui chơi tại quán thâu đêm suốt sáng, cơ sở này còn tổ chức cho phép nữ tiếp viên bán dâm cho khách.

Theo đó, PC45 đã phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành bất ngờ kiểm tra karaoke Bạn và phát hiện 3 nữ tiếp viên đang bán dâm cho 3 người Hàn Quốc. Đặc biệt, trong nhóm ba cố gái bán dâm, có một người chưa thành niên.

Đồng thời, cơ quan chức năng cũng lập biên bản vi phạm đối với điểm karaoke này vì kinh doanh không đúng ngành nghề đăng ký; sử dụng tiếp viên không có hợp đồng lao động; sử dụng rượu ngoại không tem nhãn nhập khẩu.

Điều tra ban đầu cho thấy, điều hành cơ sở này là 2 người phụ nữ có tên Đỗ Thị Thể Huyền (SN 1979, thường trú tại phường Hiệp Thành, TP Thủ Dầu Một) và Nguyễn Thị Lan (SN 1979, quê ở Đồng Nai).

Theo lời khai của các tiếp viên, hai tú bà đã bật đèn xanh cho họ và chỉ được phép bán dâm với người nước ngoài, đặc biệt là người Hàn Quốc. Giá mỗi lần “đi khách” là 1 triệu 300 nghìn đồng đến 2 triệu đồng. Các tiếp viên nộp lại cho 2 tú bà này 300.000 đồng/lượt đi.

Huyền và Lan đã bị cơ quan điều tra bắt khẩn cấp ngay trong đêm cơ sở bị phát hiện quả tang và ngày 14-12, đã bị Viện KSND tỉnh phê chuẩn lệnh khởi tố bắt giam điều tra hành vi “môi giới mại dâm”.

Theo Khôi Nguyên
Tiền phong

Read more…

Clip 'chém gió' vì bị phạt giao thông gây sốt trên mạng

20:19 |

Bị phạt lỗi không đội mũ bảo hiểm, một nam thanh niên huyên thuyên hồi lâu, khoe khoang hút thuốc lá Hongkong, đeo kính Càn Long và "chém gió" về "học hàm, học vị" cao ngất ngưởng...
Bạn đọc Mạnh Việt vừa cho biết một clip giao thông đang lan truyền nhanh trên mạng. Clip này kể lại vụ việc lúc 3h chiều 6/12, một tổ công tác của công an Hà Nội làm nhiệm vụ tại nút giao thông Kim Đồng - Giải Phóng, đã ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra đối với nam thanh niên đi xe máy vì không đội mũ bảo hiểm.

Thay vì chấp hành theo hiệu lệnh, nam thanh niên "khật khưỡng" bước xuống xe và bắt đầu lè nhè lý sự: Không vi phạm gì, sao lại "tuýt" còi kiểm tra? Anh này lu loa với rất nhiều người dân đang đứng gần đó rằng cảnh sát không có quyền kiểm tra, vì: "Tôi là người Hongkong. Tôi đố các ông biết tôi ở đâu?".
Clip

Thanh niên khoe đeo kính Càn Long.
Anh này còn khoe sự giàu sang của mình rằng anh ta có kính đeo mắt thời vua Càn Long (Trung Quốc), thuốc lá "xịn" của Hồng Kông, điện thoại Iphone 5... toàn hàng "hiệu", nên không ai có quyền "động vào" kiểm tra được.


Liên tục "chém gió" về những học hàm học vị cao ngất ngưởng.

Sau một hồi "chém gió", nam thanh niên đưa ra một giấy đăng xe và một chứng minh nhân dân có tên là Trần Quốc Huy (SN 1981), tự xưng là làm tại Viện khoa học Kỹ nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội. Tuy nhiên, khi lực lượng chức năng yêu cầu Huy ký vào biên bản xử phạt vi phạm, thì anh này lại tiếp tục tỏ thái độ chây ì, không chịu ký.

Gần một tiếng đồng hồ, anh này cầm biên bản lên đọc từng chữ, thậm chí cả dấu chấm, phẩy và số biên bản..., dây dưa mãi không chịu ký. Người dân đứng xem rất đông.

Khi đọc biên bản, có đoạn Huy cao giọng: " Em làm nông nghiệp mà các bác (chỉ công an) ghi em làm nghề tự do. Em làm ở cái viện to nhất miền Bắc. Em có phải dạng vớ vẩn đâu...Không có nền nông nghiệp các bác chết lâu rồi. Các bác đừng nghĩ các bác học cao, em học cao hơn các bác nhiều, em học tiến sĩ đàng hoàng nhé!...".

Read more…

Quyết định 43/2012/QĐ-TTg 12/10/2012

08:15 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Số: 43/2012/QĐ-TTg

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2012                          

QUYẾT ĐỊNH
Về việc sửa đổi tên gọi và sửa đổi, bổ sung Điều 1 của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTG
ngày 26 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức
một số ngành, nghề trong công ty nhà nước
_______________________
 
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bsung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định sửa đi tên gọi và sửa đổi, bổ sung Điều 1 của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2005 của Thủ tưng Chính phủ về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức một số ngành, nghề trong công ty nhà nước,
Điều 1. Sửa đổi tên gọi của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức một số ngành, nghề trong công ty nhà nước (sau đây gọi tắt là Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg) thành “Quyết định về chế độ đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức quản lý một số ngành, nghề trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu”.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg như sau:
“Điều 1. Quy định một số chế độ đặc thù áp dụng đối với công nhân, nhân viên, viên chức quản lý làm việc ở một số ngành, nghề trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu như sau:
1. Chế độ ăn định lượng tính thành tiền theo ngày làm việc thực tế gồm:
a) Mức 77.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Công nhân đèn luồng từ cửa biển vào cảng; công nhân, nhân viên trong thời gian đo đạc, chụp ảnh hàng hải thành lập bản đồ địa hình, bản đồ biển.
b) Mức 93.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Công nhân khai thác khoáng sản trong hầm lò, công nhân cơ điện lò, công nhân vận hành máy liên hợp đào lò và khai thác khoáng sản trong hầm lò; lái đầu máy và phụ lái đầu máy xe lửa; công nhân, nhân viên làm công việc áp tải, chuyển tải, giao nhận than trên biển; thuyền viên tàu vận tải biển, tàu công trình biển, tàu thả phao ngoài biển, tàu địa vật lý, hộ tống, dịch vụ, tiếp tế làm việc trên biển; nhân viên hoa tiêu hàng hải (trừ đối tượng quy định tại Điểm c Khoản này); kiểm soát viên không lưu, nhân viên trực tiếp vận hành, sửa chữa thiết bị thông tin, dẫn đường hàng không; nhân viên thông báo tin tức hàng không; nhân viên hiệp đồng thông báo bay; công nhân kỹ thuật trực tiếp sửa chữa máy bay; công nhân, nhân viên kỹ thuật theo chuyến bay và tiếp viên hàng không; thành viên tổ kỹ thuật chụp ảnh trên máy bay.
c) Mức 108.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Thợ lặn; thuyền viên tàu đánh bắt thủy sản, vận chuyển hàng thủy sản đi biển xa có công suất từ 800 sức ngựa trở lên; tàu trục vớt, cứu hộ; tàu tìm kiếm cứu nạn hàng hải; nhân viên hoa tiêu hàng hải làm nhiệm vụ dẫn tàu chở dầu từ các giàn khoan ngoài biển.
d) Mức 170.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Thành viên tổ lái máy bay; công nhân, nhân viên làm việc trên các tàu vận tải biển trong thời gian đi nước ngoài; công nhân đào lò giếng đứng, khai thác than khoáng sản trong hầm lò độ sâu trên 100 mét; công nhân, nhân viên làm việc tại các luồng tàu biển, các trạm đèn biển (trừ đối tượng đã áp dụng mức ăn định lượng theo quy định tại Điểm đ Khoản này);
đ) Mức 232.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Công nhân, nhân viên là người Việt Nam làm việc tại các giàn khoan, các tàu dịch vụ vận tải dầu khí trên bin; công nhân, nhân viên làm việc tại các trạm đèn biển thuộc quần đảo Trường Sa và các trạm đèn biển nằm biệt lập cách đất liền trên 20 hải lý.
Mức ăn định lượng nêu trên, người lao động đóng góp từ lương bằng 30% mức được hưởng, doanh nghiệp chi 70% còn lại và được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí kinh doanh. Người lao động hưởng chế độ ăn định lượng thì không được hưởng chế đ ăn ca, chế độ bồi dưỡng nặng nhọc, độc hại bằng hiện vật theo quy định.
2. Chế độ thưởng an toàn gồm 2 mức 15% và 20% tính theo lương cấp bậc, chức vụ, áp dụng đối với công nhân, nhân viên một số nghề có điều kiện lao động đặc thù.
Đối tượng áp dụng chế độ thưởng an toàn quy định tại Phụ lục kèm theo Quyết định này.
3. Phụ cấp thợ lặn gồm các mức từ 0,1 đến 1,0 tính theo mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định, áp dụng đối với thợ lặn sâu hơn 3 m, tùy theo độ sâu được áp dụng phụ cấp tính theo giờ lặn thực tế.
4. Phụ cấp đi biển mức 232.000 đồng/ngày áp dụng đối với: Công nhân, nhân viên trong những ngày thực tế làm vic trên các giàn khoan, các tàu dịch vụ vận tải dầu khí, các công trình dầu khí trên biển, các tàu trục vớt, cứu hộ, cứu nạn hàng hải, tàu công trình biển, tàu thả phao ngoài biển, tàu hộ tống dịch vụ, tiếp tế làm việc trên biển, vận hành luồng tàu biển; công nhân, nhân viên vận hành đèn biển tại các đảo biệt lập xa đất liền; nhân viên hoa tiêu làm nhiệm vụ dẫn tàu ngoài biển.
5. Chế độ thiếu nước ngọt áp dụng đối với những vùng thiếu nước ngọt theo mùa.”
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2012.
2. Bãi bỏ Điều 1 của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg và Quyết định số 72/2008/QĐ-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quyết định số 234/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế đặc thù đối với công nhân, nhân viên, viên chức một số ngành, nghề trong công ty nhà nước.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định này.
4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lãnh đạo công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thực hiện Quyết định này./.
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
 
 
Nguyễn Tấn Dũng
Read more…

Nghị định 84/2012/NĐ-CP 12/10/2012

08:12 |
CHÍNH PHỦ
Số: 84/2012/NĐ-CP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2012                          

NGHỊ ĐỊNH
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc
_________________________

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc,
Điều 1. Vị trí và chức năng
Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.
Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn
Ủy ban Dân tộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1. Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Ủy ban Dân tộc đã được phê duyệt và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực do Ủy ban Dân tộc quản lý.
3. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ giảm nghèo ở các xã, thôn, bản có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, xã an toàn khu, vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao; các chính sách đầu tư, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; các chính sách, dự án hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn (núi đá, lũ quét, lũ ống, vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai); các chính sách, dự án bảo tồn và phát triển đối với các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án, đề án sau khi ban hành.
4. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc; phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách thu hút, tăng cường cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
5. Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về công tác dân tộc theo phân công.
6. Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nâng cao dân trí ở vùng dân tộc thiểu số; chính sách để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; chính sách phát triển các cơ sở đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
7. Trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền tiêu chí xác định thành phần dân tộc, danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam; tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, danh mục phân định các xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, danh mục các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi thuộc vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn.
8. Ban hành các thông tư, quyết định, chỉ thị thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc; kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành có liên quan đến công tác dân tộc; được cơ quan chủ trì thẩm định mời tham gia thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quan trọng do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo có liên quan trực tiếp đến thực hiện chính sách dân tộc.
9. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình, dự án, đề án, công trình quan trọng quốc gia, quyết định, chỉ thị đã được ban hành hoặc phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc.
10. Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội sơ kết, tổng kết, đánh giá việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân tộc, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ định kỳ và đột xuất theo quy định; rà soát việc thực hiện chính sách dân tộc ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ở các địa phương; kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách dân tộc cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước.
11. Chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng những điển hình tiên tiến là tập thể, cá nhân tiêu biểu, người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số; khen thưởng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các tập thể và cá nhân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự và gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số.
12. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa đại biểu dân tộc thiểu số, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và các sự kiện khác liên quan đến công tác dân tộc nhằm tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.
13. Tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc; phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án, dự án tăng cường công tác truyền thông, đưa thông tin về cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, truyền phát trực tuyến các kênh phát thanh, truyền hình dân tộc trên mạng Internet; phối hợp thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số.
14. Theo dõi, kiểm tra, tổng hợp tình hình vùng dân tộc thiểu số, tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương, đề xuất, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số.
15. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc phạm vi quản lý nhà nước về công tác dân tộc, hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc, bộ dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam.
16. Điều tra, nghiên cứu, tổng hợp về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc, thành phần dân tộc, tên gọi, phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và những vấn đề khác về dân tộc.
17. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công tác dân tộc; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.
18. Tiếp đón, thăm hỏi và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giải quyết nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số theo chế độ, chính sách và quy định của pháp luật.
19. Phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan trong việc lập kế hoạch, trình Chính phủ phân bổ nguồn lực giảm nghèo cho các địa phương vùng dân tộc thiểu số; thẩm định hoặc tham gia thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
20. Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính, công khai các loại thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực công tác dân tộc; thực hiện các nhiệm vụ khác về cải cách hành chính theo quy định của pháp luật.
21. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động nghiên cứu chiến lược, chính sách dân tộc, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn công tác dân tộc; nghiên cứu khoa học, công nghệ, môi trường trong lĩnh vực công tác dân tộc và địa bàn vùng dân tộc thiểu số; đào tạo nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số.
22. Hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật; phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc, thu hút nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; quản lý, chỉ đạo hoặc tham gia thực hiện các chương trình, dự án do nước ngoài, tổ chức quốc tế tài trợ, đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
23. Quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực công tác dân tộc; thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.
24. Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu, thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức do Ủy ban Dân tộc quản lý theo quy định của pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức và những người làm công tác dân tộc; ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý cơ quan công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan trong việc hướng dẫn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị.
25. Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; phối hợp với Bộ Tài chính lập, tổng hợp dự toán thu, chi ngân sách theo ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý để trình Chính phủ; quản lý, tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách nhà nước; thực hiện các nhiệm vụ khác về ngân sách nhà nước, tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật.
26. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật.
Điều 3. Cơ cấu tổ chức
Ủy ban Dân tộc có Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, các Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và các đơn vị thuộc Ủy ban Dân tộc:
1. Vụ Kế hoạch - Tài chính;
2. Vụ Tổ chức cán bộ;
3. Vụ Pháp chế;
4. Vụ Hợp tác quốc tế;
5. Thanh tra;
6. Văn phòng;
7. Vụ Tổng hợp;
8. Vụ Chính sách dân tộc;
9. Vụ Tuyên truyền;
10. Vụ Dân tộc thiểu số;
11. Vụ Địa phương I;
12. Vụ Địa phương II;
13. Vụ Địa phương III;
14. Viện Dân tộc;
15. Báo Dân tộc và Phát triển;
16. Trung tâm Thông tin;
17. Tạp chí Dân tộc;
18. Trường Cán bộ dân tộc;
19. Nhà khách Dân tộc.
Tại Điều này, các đơn vị quy định từ Khoản 1 đến Khoản 13 là các đơn vị giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các đơn vị quy định từ Khoản 14 đến Khoản 19 là các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc.
Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Chính sách dân tộc, Vụ Địa phương II, Vụ Địa phương III được thành lập 2 phòng trong vụ; Văn phòng Ủy ban Dân tộc có Phòng và Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 4. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2012.
2. Nghị định này thay thế Nghị định số 60/2008/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc; bãi bỏ các quy định trước đây trái với Nghị định này.
Điều 5. Trách nhiệm thi hành
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
 
 
Nguyễn Tấn Dũng
Read more…

Thông tư 10/2012/TT-BTP 15/10/2012

08:09 |
BỘ TƯ PHÁP
Số: 10/2012/TT-BTP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2012                          

THÔNG TƯ
Quy định tổ chức thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp
___________________

Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức;
Căn cứ Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Nội vụ (Công văn số 3008/BNV-CCVC ngày 22 tháng 8 năm 2012 của Bộ Nội vụ);
Xét đề nghị của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Tư pháp;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư quy định việc tổ chức thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp như sau:

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định về nguyên tắc, điều kiện, nội dung, hình thức và quy trình tổ chức thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp của Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục Thi hành án dân sự) và Chi cục Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chi cục Thi hành án dân sự). Việc thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp các cơ quan thi hành án dân sự trong quân đội thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và theo quy định của pháp luật.
Điều 2. Nguyên tắc tổ chức thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp
Việc tổ chức thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp (sau đây gọi chung là thi tuyển) được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan cạnh tranh.
Điều 3. Đăng ký nhu cầu ngạch Chấp hành viên sơ cấp
1. Chậm nhất là ngày 31 tháng 3 hàng năm, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự có văn bản báo cáo Tổng cục Thi hành án dân sự về biên chế, số lượng công chức hiện có theo từng ngạch công chức và đăng ký nhu cầu Chấp hành viên sơ cấp của địa phương để trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt chỉ tiêu và kế hoạch thi tuyển.
2. Kế hoạch thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp được Bộ Tư pháp thông báo công khai theo quy định của pháp luật để các đối tượng có nhu cầu đăng ký dự thi tuyển.
Điều 4. Đối tượng đăng ký dự thi tuyển
1. Công chức các cơ quan thi hành án dân sự địa phương.
2. Công chức các cơ quan khác có nhu cầu đăng ký dự thi.
3. Những người chưa phải là công chức có nhu cầu đăng ký dự thi.
Chương II
NỘI QUY, QUY CHẾ THI TUYỂN, HỘI ĐỒNG THI, ĐIỀU KIỆN,
HỒ SƠ ĐĂNG KÝ THI TUYỂN CHẤP HÀNH VIÊN SƠ CẤP
Điều 5. Nội quy, quy chế thi tuyển
Nội quy kỳ thi và quy chế thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp thực hiện như quy định về nội quy kỳ thi, quy chế thi nâng ngạch công chức quy định tại Phụ lục số 3Phụ lục số 4 ban hành kèm theo Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (sau đây gọi chung là Thông tư số 13/2010/TT-BNV).
Điều 6. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp
1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp trên cơ sở đề nghị của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng: 01 Lãnh đạo Bộ Tư pháp;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng: 01 Lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự;
c) Các Ủy viên Hội đồng: 01 Lãnh đạo Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Tư pháp và các uỷ viên khác là đại diện các đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan;
d) Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng: 01 Lãnh đạo Vụ Tổ chức cán bộ thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự.
2. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Điều kiện và hồ sơ đăng ký dự thi tuyển đối với công chức đang công tác tại cơ quan thi hành án dân sự
1. Đối với các trường hợp đăng ký thi tuyển tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi mình đang công tác thì điều kiện và hồ sơ thực hiện theo quy định tại Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, kèm theo Giấy chứng nhận sức khoẻ do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp trong hạn 30 ngày, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển và các quy định của Thông tư này.
2. Đối với trường hợp công chức cơ quan thi hành án dân sự thuộc tỉnh, thành phố này đăng ký thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác phải có đủ điều kiện, hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung sau:
a) Đơn vị nơi công chức đăng ký dự thi còn chỉ tiêu biên chế và có nhu cầu bổ sung Chấp hành viên sơ cấp;
b) Văn bản đồng ý cho tham dự thi tuyển của cơ quan, đơn vị mà người đăng ký dự thi đang công tác.
Điều 8. Điều kiện và hồ sơ đăng ký dự thi của công chức không thuộc các cơ quan thi hành án dân sự
Công chức không thuộc các cơ quan thi hành án dân sự đăng ký dự thi tuyển phải bảo đảm đủ điều kiện và hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư này và các nội dung sau:
1. Đơn vị nơi công chức đăng ký dự thi còn chỉ tiêu biên chế và có nhu cầu bổ sung Chấp hành viên sơ cấp;
2. Có văn bản đồng ý cho tham dự thi tuyển của Thủ trưởng cơ quan nơi công chức đang công tác.
Điều 9. Điều kiện và hồ sơ đăng ký dự thi của những người chưa phải là công chức 
1. Có đủ các điều kiện để trở thành công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
2. Có đủ điều kiện và hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư này.
3. Đơn vị nơi đăng ký dự thi còn chỉ tiêu biên chế và có nhu cầu bổ sung Chấp hành viên sơ cấp.
4. Có đủ điều kiện được miễn chế độ tập sự quy định tại khoản 4 Điều 20 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP.
5. Có tài liệu, giấy tờ để xác định thời gian làm công tác pháp luật.
Điều 10. Sơ tuyển ngạch Chấp hành viên sơ cấp
1. Tập thể lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự thực hiện sơ tuyển đối với những người được đề nghị hoặc đăng ký tham dự thi tuyển ngạch Chấp hành viên sơ cấp tại địa phương mình.
2. Nội dung sơ tuyển:
a) Kiểm tra tính hợp lệ của Hồ sơ của những người tham dự thi tuyển;
b) Kiểm tra điều kiện tham dự thi tuyển;
c) Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức và các điều kiện về sức khỏe của người dự thi tuyển theo yêu cầu, nhiệm vụ thi hành án dân sự.
3. Trên cơ sở kết quả sơ tuyển theo quy định tại khoản 2 Điều này, tập thể lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự đánh giá kết quả sơ tuyển theo hình thức đạt hoặc không đạt.
4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thực hiện sơ tuyển, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự phải thông báo kết quả sơ tuyển cho người được sơ tuyển và cơ quan nơi người đó công tác biết.
Trường hợp có khiếu nại về kết quả sơ tuyển thì Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự phải xem xét, giải quyết. Thủ tục giải quyết khiếu nại của công chức thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 11. Thời gian tổ chức kỳ thi tuyển quốc gia vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp
Hàng năm, Tổng cục Thi hành án dân sự phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Tư pháp tham mưu, trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định tổ chức kỳ thi tuyển quốc gia vào ngạch chấp hành viên sơ cấp.
Chương III
MÔN THI, HÌNH THỨC THI TUYỂN CHẤP HÀNH VIÊN SƠ CẤP
Điều 12. Các môn thi
1. Công chức loại C đăng ký thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp phải tham gia thi các môn thi quy định tại khoản 1 Điều 13 Thông tư này.
2. Công chức loại D đăng ký dự thi vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp phải tham gia đủ các môn thi theo quy định tại Điều 13 Thông tư này trừ trường hợp quy định tại Điều 5 Phụ lục số 5 ban hành kèm theo Thông tư số 13/2010/TT-BNV.
3. Những người chưa phải là công chức, nếu đăng ký dự thi vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp phải tham gia đủ các môn thi theo quy định tại Điều 13 Thông tư này.
Điều 13. Hình thức thi và thời gian thi
1. Môn nghiệp vụ chuyên ngành thi hành án dân sự gồm 01 bài thi trắc nghiệm Pháp luật về thi hành án dân sự, thời gian 45 phút và 01 bài thi viết Kỹ năng thi hành án dân sự, thời gian 180 phút.
2. Môn Kiến thức chung: Thi viết 01 bài, thời gian 180 phút.
3. Môn Ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số: Thi viết để kiểm tra về các kỹ năng đọc hiểu, viết ở trình độ B (một trong năm thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc thi tiếng dân tộc thiểu số quy định tại khoản 4 Điều 7 Thông tư số 13/2010/TT-BNV. Thời gian thi là 60 phút.
4. Môn tin học văn phòng: thi trắc nghiệm hoặc thi thực hành trên máy vi tính về hệ điều hành Windows, sử dụng các ứng dụng của Microsoft Office, sử dụng Internet. Thời gian thi là 30 phút.
Điều 14. Cách tính điểm các môn thi
1. Bài thi được chấm theo thang điểm 100.
2. Điểm các môn thi được tính như sau:
a) Môn nghiệp vụ chuyên ngành thi hành án dân sự: bài thi viết kỹ năng thi hành án dân sự tính hệ số 2; bài thi trắc nghiệm pháp luật về thi hành án dân sự  tính hệ số 1;
b) Điểm các bài thi môn kiến thức chung, môn ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số và môn tin học tính hệ số 1 và không tính vào tổng số điểm thi.
Nội dung các môn thi này thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP và các quy định khác có liên quan.
Điều 15. Xác định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp
1. Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có đủ các bài thi của các môn thi theo quy định tại Điều 12 Thông tư này;
b) Có số điểm của mỗi bài thi (chưa nhân hệ số) đạt từ 50 điểm trở lên;
c) Có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu Chấp hành viên sơ cấp của đơn vị. Theo  tổng điểm chung được xác định như sau: Tổng điểm chung  = (điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành thi hành án dân sự (thi viết) x (nhân) hệ số 2) + (điểm bài thi nghiệp vụ chuyên ngành (trắc nghiệm) x (nhân) hệ số 1).
d) Trường hợp có 02 người trở lên có kết quả thi tuyển bằng nhau ở vị trí, chỉ tiêu cuối cùng của ngạch Chấp hành viên sơ cấp (theo chỉ tiêu phân bổ của cơ quan quản lý công chức), thì người có điểm bài thi viết kỹ năng thi hành án dân sự cao hơn là người trúng tuyển. Nếu vẫn không xác định được người trúng tuyển thì  Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị để Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định người trúng tuyển.
Điều 16. Thông báo kết quả kỳ thi và bổ nhiệm vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp
1. Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp thông báo công khai kết quả thi trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, thông báo cho Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, cơ quan nơi có công chức đăng ký dự thi vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp và những người đăng ký dự thi về kết quả thi.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục phúc khảo theo quy định, Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp phải báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận kết quả kỳ thi và phê duyệt danh sách công chức trúng tuyển.
Trường hợp nhiều người có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu Chấp hành viên sơ cấp cuối cùng của từng tỉnh, thành phố thì Hội đồng thi tuyển Chấp hành viên lập riêng danh sách số người này để xác định người trúng tuyển theo quy định tại Thông tư này.
3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả của Hội đồng thi tuyển, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định công nhận kết quả kỳ thi và danh sách người trúng tuyển, thông báo cho Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự có công chức tham dự kỳ thi và cơ quan nơi có công chức dự thi vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp trúng tuyển, đồng thời quyết định bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp theo quy định trừ trường hợp quy định tại Điều 19, Điều 20 Thông tư này.
Điều 17. Bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với trường hợp công chức trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp có nguyện vọng đến làm Chấp hành viên sơ cấp của tỉnh, thành phố khác
Trường hợp tham dự kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp đáp ứng đủ điều kiện tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 15 của Thông tư này nhưng tại đơn vị mà công chức đang công tác đã thực hiện đủ chỉ tiêu Chấp hành viên sơ cấp theo quy định tại điểm c và điểm d Điều 15 của Thông tư này thì có thể được xem xét để bổ nhiệm vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp ở các cơ quan thi hành án dân sự của tỉnh, thành phố khác khi đáp ứng các yêu cầu sau đây:
1. Công chức có đơn trình bày nguyện vọng;  
2. Đơn vị đăng ký chuyển đến còn chỉ tiêu và được sự đồng ý bằng văn bản của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi công chức chuyển đi và Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi công chức chuyển đến.
Điều 18. Điều động, bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư này
Căn cứ kết quả kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định bổ nhiệm và điều động Chấp hành viên đối với trường hợp công chức cơ quan thi hành án dân sự thuộc tỉnh, thành phố này trúng tuyển kỳ thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố khác.
Điều 19. Tiếp nhận và bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với trường hợp công chức không thuộc các cơ quan thi hành án dân sự trúng tuyển kỳ thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp
Căn cứ kết quả thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi có công chức đăng ký dự thi hoàn tất hồ sơ, thủ tục báo cáo Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với trường hợp công chức không thuộc các cơ quan thi hành án dân sự đỗ kỳ thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp.
Điều 20. Tuyển dụng và bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với trường hợp chưa phải là công chức
Căn cứ kết quả thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi có người đăng ký dự thi hoàn tất hồ sơ, thủ tục báo cáo Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định tuyển dụng và bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp đối với trường hợp chưa phải là công chức đỗ kỳ thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH
Điều 21. Trách nhiệm thi hành
1. Hàng năm, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự có trách nhiệm rà soát số lượng công chức hiện có theo từng ngạch công chức và đăng ký nhu cầu thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp của các cơ quan thi hành án dân sự của địa phương gửi Tổng cục Thi hành án dân sự.
2. Căn cứ đề xuất của Cục Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự xây dựng kế hoạch thi tuyển vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt.
Điều 22. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2012.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các đơn vị phản ánh về Bộ Tư pháp để hướng dẫn, xem xét, giải quyết./.
BỘ TRƯỞNG
(Đã ký)
 
 
Hà Hùng Cường
Read more…